Kỷ niệm 120 năm ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng (01/3/1906 – 01/3/2026)
Lượt xem:
Phạm Văn Đồng – Người con ưu tú của quê hương Mộ Đức, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng
Gần một thế kỷ của cuộc đời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tận lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, được các tầng lớp nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế yêu mến, kính trọng.

Với 94 tuổi đời, 75 năm hoạt động cách mạng liên tục, 41 năm là Ủy viên Trung ương Đảng, 35 năm là Ủy viên Bộ Chính trị, 32 năm giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ, 10 năm là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Phạm Văn Đồng đã cống hiến trọn đời cho đất nước, mang hết nhiệt tình, tài năng và trí tuệ phục vụ cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, đồng chí cũng luôn tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng và tương lai tươi sáng của đất nước.
Đặc biệt, đối với nhân dân Quảng Ngãi nói chung và quê hương Mộ Đức nói riêng, Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ là nhà lãnh đạo kiệt xuất của dân tộc mà còn là người con ưu tú của quê hương, niềm tự hào lớn lao của Đảng bộ và nhân dân địa phương, biểu tượng sáng ngời về ý chí, trí tuệ, nhân cách và tinh thần cống hiến trọn đời vì nước, vì dân.
Người học trò xuất sắc, cộng sự gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đồng chí Phạm Văn Đồng, bí danh là Tô, sinh ngày 01/3/1906 trong một gia đình công chức tại xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi (nay thuộc xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) và mất ngày 29/4/2000 tại Thủ đô Hà Nội.
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng, đồng chí sớm hình thành chí hướng lớn, nuôi dưỡng lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần phụng sự Tổ quốc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí: Phạm Văn Đồng (thứ 2 từ phải sang), Võ Nguyên Giáp, Trường Chinh sau giờ họp Hội nghị Trung ương lần thứ VI (tháng 7-1954). Ảnh tư liệu.
Vào những năm đầu thế kỷ XX, khi còn là một thanh niên, đồng chí Phạm Văn Đồng đã sớm giác ngộ cách mạng, biết đến lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và tìm hiểu tư tưởng cách mạng của Người thông qua các sách báo được truyền bá vào Việt Nam lúc bấy giờ như báo “Người cùng khổ”, “Nhân đạo”, “Tạp chí thư tín quốc tế”…
Năm 1926, đồng chí được sang Quảng Châu dự lớp huấn luyện chính trị do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức và trực tiếp giảng dạy. Đây là bước ngoặt lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí. Đồng chí nhanh chóng tiếp thu những tư tưởng mới – con đường cách mạng vô sản – và được kết nạp vào Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội. Từ đó, đồng chí có điều kiện gặp gỡ nhiều hơn với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Ý chí cách mạng, lý tưởng cộng sản và tinh thần yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đã ảnh hưởng sâu sắc tới tình cảm và lý tưởng của đồng chí, biến đồng chí từ một thanh niên yêu nước trở thành một chiến sĩ cách mạng chân chính.
Đầu năm 1940, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về nước lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người đã giao cho đồng chí Phạm Văn Đồng những nhiệm vụ quan trọng. Cũng từ đây, bắt đầu một thời kỳ dài gần 30 năm (cho tới khi Bác mất), đồng chí Phạm Văn Đồng thường xuyên làm việc bên Bác, theo sự chỉ dẫn và phân công của Người.
Là một trong những cán bộ tiền bối được Bác Hồ trực tiếp giáo dục và rèn luyện, đồng chí Phạm Văn Đồng đã trở thành người học trò xuất sắc, một cộng sự gần gũi và thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí thể hiện những phẩm chất cao quý của một người cộng sản trung kiên, mẫu mực: tận trung với nước, tận hiếu với dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; chống quan liêu, tham ô, lãng phí; nói đi đôi với làm; nêu gương về đạo đức, nhân cách; có tấm lòng nhân ái, bao dung…
Người cộng sản kiên cường, mẫu mực, suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trong suốt 15 năm đầu đi theo con đường cách mạng (1926–1940), đồng chí luôn vượt qua mọi khó khăn, gian nguy, mang hết nhiệt tình, tài năng và trí tuệ cống hiến cho cách mạng với niềm tin sắt đá vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Từ trước ngày kháng chiến toàn quốc bùng nổ đến tháng 01/1949, đồng chí là Đặc phái viên của Trung ương Đảng và Chính phủ tại miền Nam Trung Bộ. Đồng chí đã có những cống hiến và sáng tạo trong việc xây dựng vùng tự do Nam – Ngãi – Bình – Phú, củng cố căn cứ địa kháng chiến, thực hiện khẩu hiệu tự lực cánh sinh, chuẩn bị thực lực cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng chí còn chỉ đạo việc thành lập và trực tiếp giảng dạy tại Trường Trung học Bình dân Nam Trung Bộ.
Khoảng tháng 02/1949, đồng chí được điều động trở lại công tác tại Việt Bắc, được bổ sung làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, sau đó là Phó Thủ tướng Chính phủ. Từ năm 1951 đến 1986, đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị. Từ năm 1955 đến 1987, đồng chí được Đảng và Nhà nước giao trọng trách Thủ tướng Chính phủ. Đồng chí còn kiêm nhiệm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng trong những năm 1954–1955. Trong thời gian từ 1986–1997, đồng chí là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Dù ở cương vị nào, đồng chí cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và giữ cách sống mẫu mực của một đảng viên cộng sản chân chính theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng chí luôn là tấm gương sáng về người cán bộ lãnh đạo tận tâm, tận lực vì dân, vì nước; liêm khiết, khiêm tốn, giản dị, gần gũi với nhân dân.
Tháng 5/1999, dù tuổi cao, sức khỏe không còn tốt, đồng chí vẫn gửi đến Tạp chí Cộng sản bài viết “Nêu cao danh hiệu Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam”. Với ngòi bút sắc sảo, đồng chí đã chỉ rõ những mặt yếu kém cần sửa chữa, khắc phục, thể hiện tinh thần “thấy rõ sự thật, nói đúng sự thật, nói hết sự thật”, nghiêm khắc nhưng sâu sắc, thẳng thắn mà đầy trách nhiệm, góp phần cổ vũ công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Nhà lãnh đạo xuất sắc, nhà ngoại giao tài năng
Trong hai cuộc kháng chiến cứu quốc, trên cương vị Phó Thủ tướng rồi Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phạm Văn Đồng đã lo tổ chức bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, hiệu quả; tích cực phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế; đảm bảo đời sống nhân dân; huy động sức người, sức của cho kháng chiến; tăng cường sức mạnh hậu phương; tổ chức tốt công tác chi viện cho tiền tuyến.
Sau khi đất nước thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng chí trăn trở trước những khó khăn của đất nước. Đồng chí đã chỉ đạo khảo sát mô hình “khoán chui” trong nông nghiệp tại Hải Phòng, trực tiếp làm việc với lãnh đạo địa phương và kết luận những ưu điểm, hạn chế của cơ chế khoán. Đây là tiền đề quan trọng cho các chủ trương đổi mới trong nông nghiệp, tạo động lực thúc đẩy sản xuất.

Trong ảnh: Tổng thống Suharto và phu nhân mở tiệc chiêu đãi Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân chuyến thăm chính thức Indonesia, tối 21/9/1978, tại thủ đô Jakarta. Ảnh: TTXVN
Cũng trong giai đoạn này, đồng chí đồng ý cho Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng các biện pháp mới trong cơ chế sản xuất công nghiệp và từng bước tổng kết, dẫn đến sự ra đời của các Quyết định 25/CP và 26/CP của Chính phủ, mở ra cơ chế mới trong sản xuất kinh doanh, từng bước xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp – những bước đầu mang tư tưởng đổi mới.
Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đồng chí khẳng định: đổi mới là xây dựng đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân; là dân giàu; là xây dựng nền văn hóa mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Với phong cách làm việc gắn chặt giữa tư duy lý luận sắc bén với thực tiễn sinh động, đồng chí là một nhà lãnh đạo kinh tế đổi mới, người quản lý thông thái, năng động và sáng tạo.
Trong lĩnh vực đối ngoại, đồng chí là nhà ngoại giao tài năng, có uy tín lớn trên thế giới; nhìn xa trông rộng, tinh tế và linh hoạt, kiên cường và mềm dẻo; luôn thể hiện lập trường chính trị sáng suốt trước mọi biến động của thời cuộc và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh. Đồng chí là Trưởng đoàn Việt Nam tham dự nhiều hội nghị quốc tế quan trọng như Hội nghị Fontainebleau (1946), Hội nghị Geneva (1954), Hội nghị Á – Phi tại Indonesia (1955), các hội nghị cấp cao của Phong trào không liên kết…
Tấm gương sáng mãi với các thế hệ hôm nay và mai sau
Gần một thế kỷ cuộc đời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã tận lực cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc. Là nhà lãnh đạo có uy tín lớn của Đảng và Nhà nước ta, công lao, nhân cách và trí tuệ của đồng chí mãi là tấm gương sáng để các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân học tập, noi theo.
Đối với quê hương Quảng Ngãi nói chung và xã Mộ Đức nói riêng, hình ảnh Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ là niềm tự hào lớn lao mà còn là nguồn động viên tinh thần sâu sắc, nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên và người dân luôn giữ vững truyền thống cách mạng, tinh thần đoàn kết và ý chí vươn lên trong công cuộc xây dựng quê hương, đất nước.

Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – ở xã Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
Người dân xã Mộ Đức hôm nay luôn tự hào về quê hương mình – mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, nơi đã sinh ra Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người con ưu tú của Quảng Ngãi, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và Nhà nước ta. Không chỉ tự hào về một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo tài năng, cán bộ và nhân dân địa phương còn luôn khắc ghi sâu sắc những lời căn dặn đầy tâm huyết của đồng chí dành cho quê nhà.
Đặc biệt, năm 1998, trong tình cảm sâu nặng đối với nơi chôn nhau cắt rốn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi gắm niềm tin và kỳ vọng lớn lao đối với Đảng bộ và nhân dân Mộ Đức. Nhân dân nơi đây nhớ mãi lời dặn của Bác Đồng:
“Tôi mong rằng toàn Đảng bộ và nhân dân huyện nhà với truyền thống anh hùng trong chiến đấu sẽ đoàn kết, nhất trí, trên dưới một lòng, ra sức xây dựng huyện Mộ Đức trở thành một huyện giàu về đời sống vật chất, đời sống văn hoá, đời sống tinh thần; một huyện đẹp, thiên nhiên đẹp, xã hội đẹp, con người đẹp, là tấm gương sáng cho các huyện trong tỉnh và trong cả nước.”
Lời dặn ấy không chỉ thể hiện tình cảm thiêng liêng của người con quê hương đối với Mộ Đức, mà còn là kim chỉ nam mang ý nghĩa sâu sắc, tiếp thêm động lực để các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Mộ Đức hôm nay tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, chung sức đồng lòng, nỗ lực xây dựng quê hương ngày càng phát triển toàn diện, bền vững, văn minh, giàu đẹp, xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi gắm.
Kỷ niệm 120 năm Ngày sinh Thủ tướng Phạm Văn Đồng là dịp để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ quê hương Mộ Đức, tiếp tục học tập tấm gương đạo đức cách mạng, bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm và trí tuệ lớn của đồng chí; từ đó không ngừng rèn luyện, cống hiến, góp phần xây dựng quê hương Quảng Ngãi và đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc.
Theo Trang TTĐT Xã Mộ Đức